Khóa học angular

RxJS Higher Order Observables và Utility Operators trong RxJS

0 phút đọc

RxJS Higher Order Observables (HOOs)

HOOs là những operators mà sẽ nhận vào giá trị của Outer Observable (hay còn gọi là Source) và sẽ trả về một Inner Observable (hay còn gọi là Destination) khác. Nhắc lại ngày trước 1 chút, chúng ta đã cùng tìm hiểu về map(), là Transformation Operator

interval(1000)
  .pipe(map((val) => val * 2))
  .suscribe(console.log);
// output: 0 -- 2 -- 4 -- 6 -- 8

Các bạn sẽ thấy là map() dùng giá trị của interval(1000)0 -- 1 -- 2 -- 3 -- 4... và trả về giá trị mới là nhân đôi của giá trị ban đầu 0 -- 2 -- 4 -- 6 -- 8.... HOOs cũng là những Transformation Operators nhưng thay vì transform thành value mới thì chúng sẽ trả về Observable mới để chúng ta có thể subscribe vào Observable mới này và lấy giá trị mới.

Nguồn gốc của các HOOs?

Trước khi tìm hiểu về cái HOOs, chúng ta sẽ tìm hiểu các operators sau: mergeAll(), concatAll(), và switchAll(). Như mình vừa nói qua ở trên, operator map() dùng để chuyển giá trị được emit từ Source Observable sang 1 giá trị mới rồi emit giá trị mới này. Ở ví dụ trên, chúng ta thấy map() trả về 1 giá trị bình thường. Vậy trường hợp map() trả về giá trị là 1 Observable thì sao? Chúng ta hãy thử nhé.

fromEvent(document, "click")
  .pipe(map(() => interval(1000)))
  .subscribe(console.log);
// Click
// output: Observable {}
// Click
// output: Observable {}
// Click
// output: Observable {}

Như các bạn thấy, chúng ta nhận được Observable {} ở trên Console. Lí do là vì map() trả về 1 Observable, là interval(1000) ở đây. Và lúc này các bạn đang có 1 Higher Order Observable (aka Observable<Observable>). Các bạn có thể hiểu là mỗi lần click, chúng ta sẽ có 1 interval() mới. Lúc này, chúng ta có thể dùng 1 trong 3 operators mình vừa liệt kê ở trên để pipe vào Source Observable này:

const source = fromEvent(document, "click").pipe(map(() => interval(1000)));

source.pipe(mergeAll()).subscribe(console.log);
source.pipe(switchAll()).subscribe(console.log);
source.pipe(concatAll()).subscribe(console.log);

Cả 3 merge/switch/concatAll sẽ giúp các bạn chuyển Higher Order Observable về lại First Order Observable bằng cách sẽ subscribe vào Observablemap() trả về. Nói cách khác, các Higher Order Observables chính là merge/switch/concatAll + map(). Cách thức hoạt động cũng như tính chất của merge/switch/concat khác nhau như thế nào thì chúng ta sẽ tìm hiểu qua các Higher Order Observables nhé.

Tại sao lại cần HOOs?

Chúng ta xem qua ví dụ sau:

this.queryInput.valueChanges.pipe(debounceTime(500)).subscribe((query) => {
  this.apiService.filterData(query).subscribe((data) => {
    /*...*/
  });
});

Chúng ta có một use-case rất quen thuộc: một FormControlqueryInput dùng để xử lý một Text Input. Chúng ta cần lắng nghe vào valueChanges trên FormControl này để thực hiện việc gọi backend với query mới. Nhưng các bạn có thấy điều gì sai sai không? Đó là chúng ta đã vi phạm một trong những lỗi dễ gặp nhất khi làm việc với RxJS: Nested Subscription, hay còn gọi là Subscribe-in-Subscribe.

Tại sao điều này không tốt? Để hiểu được chúng ta cần phải hiểu là Observable sẽ không làm gì cho đến khi subscribe. Khi bạn subscribe vào 2 Observable lồng vào nhau như thế này, 2 Observable này bắt đầu next value các kiểu con đà điểu hoàn toàn tách biệt, không liên quan gì đến nhau. Thử hình dung các bước sau:

  1. Người dùng type: "abc" vào queryInput và ngừng type.
  2. Sau 500ms (debounceTime()), valueChanges emit giá trị abc và chúng ta subscribe vào valueChanges với observer: query => {...}
  3. Từ query, chúng ta ngay lặp tức gọi apiService.filterData(query) và đây cũng là 1 Observable, nên chúng ta subscribe.
  4. Sau 1 khoảng thời gian ngẫu nhiên (vì là API request mà, hên xui 😅), chúng ta có data và bắt đầu hiển thị lên template.
    Mọi thứ đều đẹp như mơ, cho đến khi có thêm các bước như sau.
  5. Người dùng xoá abc đi và type vào xyz. Mọi thứ diễn ra dưới 500ms và người dùng dừng lại ở xyz.
    6-7. Như bước 2 và 3, chúng ta có query với giá trị là xyz và sẽ gọi apiService.filterData(query). (tạm gọi đây là {1})
  6. Sau 1 khoảng thời gian KHÁ LÂU, người dùng lại tiếp tục đổi query từ xyz thành abcxyz.
  7. Sau 500ms, chúng ta lại có queryabcxyz và sẽ tiếp tục gọi apiService.filterData(query) (tạm gọi đây là {2})
  8. Lúc này, {1} hoàn tất và chúng ta có data. Hiển thị lên template nhưng hỡi ơi, data của {1} là data mà liên quan đến query = 'xyz' cơ mà. Hiện tại queryabcxyz mất rồi. Thế là bạn nhận ra behavior của đoạn code trên có Racing Condition trầm trọng.

Trên đây chỉ là 1 ví dụ trong vô vàn ví dụ vì sao Nested Subscription là không tốt. Lí do ở đây chính là đối với Nested Subscription, chúng ta không thể quản lý cả 2 Observable và làm cho chúng đồng bộ với nhau được, cho nên các bạn nên tránh cái lỗi ngớ ngẩn này ra. Và cách tránh tốt nhất chính là hiểu + áp dụng HOOs

switchMap() trong RxJS

switchMap<T, R, O extends ObservableInput<any>>(project: (value: T, index: number) => O, resultSelector?: (outerValue: T, innerValue: ObservedValueOf<O>, outerIndex: number, innerIndex: number) => R): OperatorFunction<T, ObservedValueOf<O> | R>

switchMap() là một trong những HOOs được dùng nhiều nhất trong RxJS cũng như trong ứng dụng Angular. switchMap() sẽ nhận vào một projectFunction mà sẽ nhận vào giá trị được emit từ Outer Observable và sẽ phải trả về 1 Observable (Inner Observable) mới. Giá trị cuối cùng của Outer Observable khi dùng với switchMap() sẽ là giá trị mà Inner Observable emit. Vì đây là HOO đầu tiên nên mình sẽ cố giải thích kĩ càng và đầy đủ hơn. Các bạn hình dung case sau:

image
fromEvent(document, "click").pipe(
  switchMap(() => interval(1000).pipe(take(10)))
);
  • fromEvent(document, 'click'): Rất đơn giản. Tạo 1 Observable từ sự kiện click lên document. Mỗi lần click sẽ emit 1 giá trị (giá trị ở đây sẽ là MouseEvent nhưng chúng ta không quan tâm đến nhé)
  • interval(1000).pipe(take(10)): Chúng ta đã tìm hiểu khá nhiều về intervaltake trong những ngày qua. Dòng này sẽ trả về 1 Observable emit 1 giá trị mỗi giây và sẽ complete sau 10 giây. Việc này là để fake 1 request tốn 10s mới complete. Và dùng interval để chúng ta có thể theo dõi được giá trị được emit thay vì dùng timer.
  • Mình pipe(switchMap()) vào Outer ObservablefromEvent() rồi return Inner Observableinterval(). Các bạn hãy hiểu là khi Outer Observable emit giá trị mới thì một Inner Observable được trả về, và switchMap() sẽ subscribe vào Inner Observable mới này. Ví dụ: mình click 2 lần, chúng ta sẽ có 2 Inner Observable.

Tính chất của switchMap() là sẽ unsubscribe vào Inner Observable hiện tại khi một Inner Observable mới được return. Nói cách khác, switchMap() sẽ chỉ giữ 1 và chỉ 1 Subscription bất cứ lúc nào. Bây giờ chúng ta sẽ cùng thực hiện các bước sau với đoạn code trên và phân tích kết quả cũng như behavior của switchMap() nhé:

  1. Click lên Document. Lúc này, Outer emit, dẫn đến 1 interval() được return cho switchMap(). Mình tạm gọi interval() này là {1}.
  2. switchMap() bắt đầu subscribe vào {1}
  3. Console bắt đầu hiển thị giá trị của {1}: 0 -- 1 -- 2 -- 3 -- 4 .... Các bạn nhớ là interval() này sẽ tốn 10s để complete nhé.
  4. Ở giây thứ 5 - 6 gì đó, chúng ta lại Click lên Document lần nữa. Điều này sẽ làm cho Outer emit lần thứ 2, dẫn đến 1 interval() mới được return cho switchMap(), tạm gọi đây là {2}
  5. switchMap() đang subscribe vào {1}, nhận thấy có Observable mới là {2}, sẽ ngay lặp tức unsubscribe khỏi {1} và subscribe vào {2}.
  6. Nhìn vào Console, chúng ta sẽ thấy giá trị lặp lại từ: 0 -- 1 -- 2 -- 3 .... Lí do là đây là giá trị của {2}, là 1 interval() mới cho nên giá trị sẽ bắt đầu chạy từ số 0.

Qua phân tích như trên, các bạn đã thấy rằng switchMap() sẽ unsubscribe Inner Observable nếu như Inner Observable đang được subscribe chưa complete Outer Observable lại emit tiếp. Điều này cực kỳ hữu dụng nếu như chúng ta áp dụng switchMap() cho ví dụ queryInput ở trên. Có phải là nếu dùng switchMap(), mỗi lần queryInput có giá trị mới, switchMap() sẽ unsubscribe thằng apiService.filterData() mà chưa complete không? Vì trên thực tế, nếu query thay đổi thì data được filter theo query cũ chúng ta đâu cần quan tâm làm gì. Các bạn thử dùng switchMap() cho ví dụ đầu tiên rồi chạy xem sao nhé:

this.queryInput.valueChanges
  .pipe(
    debounceTime(500),
    switchMap((query) => this.apiService.filterData(query))
  )
  .subscribe((data) => {
    /*...*/
  });
Lưu ý

Như ở phần Nguồn gốc, mình có đề cập đến switchMap = switchAll + map. Tuy nhiên, một số trường hợp sẽ làm cho switchAll + map không hoạt động đúng tính chất của switchMap() nữa. Điển hình là khi bạn dùng với Promise. Vì tính chất non-cancellable của Promise, nên nếu các bạn có request gửi đi thì switchAll() cũng không cancel được vì Promise không hề cancel được.

Một lưu ý nữa, khi làm việc với Http Client trong Angular chẳng hạn, bạn chỉ nên dùng switchMap cho những task get dữ liệu, nếu bạn sử dụng cho Create, Update, Delete có thể sinh ra race condition. Lúc này các bạn nên thay thế bằng mergeMap hoặc concatMap.

mergeMap() trong RxJS

mergeMap<T, R, O extends ObservableInput<any>>(project: (value: T, index: number) => O, resultSelector?: number | ((outerValue: T, innerValue: ObservedValueOf<O>, outerIndex: number, innerIndex: number) => R), concurrent: number = Number.POSITIVE_INFINITY): OperatorFunction<T, ObservedValueOf<O> | R>

mergeMap() là HOO phổ biến thứ hai sau switchMap(). mergeMap() cũng nhận vào 1 projectFunction mà sẽ nhận giá trị được emit từ Outer Observable và sẽ phải trả về 1 Inner Observable. Sau đó, mergeMap() sẽ subscribe Inner Observable này. Outer Observable + mergeMap() cuối cùng sẽ emit giá trị mà Inner Observable emit.

image

Khác với switchMap(), mergeMap() sẽ không unsubscribe Inner Observable cũ nếu như có Inner Observable mới. Nói đúng hơn, mergeMap() sẽ giữ nhiều Subscription. Vì tính chất này, mergeMap() thích hợp khi bạn có nghiệp vụ mà không cần/được dừng Inner Observable nếu như Outer Observable có emit giá trị mới (ví dụ những nghiệp vụ liên quan đến Write vào Database, switchMap() sẽ thích hợp với Read).

fromEvent(document, "click").pipe(
  mergeMap(() => interval(1000).pipe(take(10)))
);

// Click, subscribe {1}
// {1}: 0 -- 1 -- 2 -- 3 -- 4
// Click, subscribe {2}
// {1}: 5 -- 6 -- 7 -- 8
// {2}: 0 -- 1 -- 2 -- 3
// Click, subscribe {3}
// {1}: 9 -- complete {1}
// {2}: 4 -- 5 -- 6 -- 7 -- 8 -- 9 -- complete {2}
// {3}: 0 -- 1 -- 2 -- 3 -- 4 -- 5 -- 6 -- 7 -- 8 -- 9 -- complete {3}

Các bạn đã thấy sự khác biệt với switchMap() rồi chứ? Vì mergeMap() sẽ không unsubscribe Inner Observable nên số lượng SubscriptionmergeMap() tạo ra có khi lên rất nhiều, các bạn chú ý khi dừng mergeMap() nhé. Không cẩn thận là ăn Memory Leak đấy.

Operator này còn nhận vào một tham số là concurrent giống như merge operator để control có bao nhiêu Inner Observable có thể chạy đồng thời.

Nếu bạn set concurrent = 1 chúng ta sẽ có cách hoạt động tương tự như concatMap phía dưới.

concatMap() trong RxJS

concatMap<T, R, O extends ObservableInput<any>>(project: (value: T, index: number) => O, resultSelector?: (outerValue: T, innerValue: ObservedValueOf<O>, outerIndex: number, innerIndex: number) => R): OperatorFunction<T, ObservedValueOf<O> | R>

Giống với mergeMap()switchMap(), concatMap() cũng nhận vào 1 projectFunctionprojectFunction này cũng sẽ phải trả về 1 Inner Observable. Khác với mergeMap()switchMap(), concatMap() sẽ subscribe vào Inner Observable và sẽ CHỜ cho đến khi Inner Observable này complete thì mới subscribe vào Inner Observable tiếp theo (nếu như có Inner Observable tiếp theo). Chúng ta sẽ tiếp tục phân tích lại ví dụ ở trên nhé:

image
fromEvent(document, "click").pipe(
  concatMap(() => interval(1000).pipe(take(5))) // mình giảm từ take(10) thành take(5) để type ít hơn 😅
);
// Click, subscribe {1}
// {1}: 0 -- 1 -- 2 --
// Click, không có gì xảy ra
// {1}: 3 -- 4 -- complete {1}
// subscribe {2}
// {2}: 0 -- 1
// Click, không có gì xảy ra
// {2}: 2 -- 3 -- 4 -- complete {2}
// subscribe {3}
// {3}: 0 -- 1 -- 2 -- 3 -- 4 -- complete {3}

Các bạn thấy chứ? concatMap() sẽ chờ cho đến khi {1} complete rồi mới subscribe vào {2} và tương tự cho {3}. Với tính chất này, concatMap() rất thích hợp trong các nghiệp vụ phải cần quan tâm đến THỨ TỰ thực hiện. Ví dụ: đèn giao thông, gọi số báo danh, hoặc nghiệp vụ dễ demo hơn là upload hình theo thứ tự.

from([image1, image2, image3]).pipe(
  // image1, image2, và image3 là loại dữ liệu File
  concatMap((singleImage) => this.apiService.upload(singleImage)) // upload từng image theo thứ tự
);
Lưu ý

Như phần Nguồn gốc mình có đề cập tới concatMap = concatAll + map. Tuy nhiên, có một số trường hợp concatAll + map sẽ hoạt động không đúng với tính chất của concatMap. Điển hình chính là khi các bạn nhúng Promise vào. Các bạn xem ví dụ sau:

fromEvent(document, "click").pipe(
  map(() => axios("...")),
  concatAll()
);

Lúc này, vì bản chất eager của Promise, khi được invoke là sẽ gửi request ngay lặp tức, nghĩa là axios(...) kia đã gửi request tại thời điểm map() mất rồi cho nên concatAll() ở đây để thực thi theo thứ tự thì hoàn toàn vô nghĩa, và nhiều trường hợp sẽ bị Racing Condition ngay.

exhaustMap() trong RxJS

exhaustMap<T, R, O extends ObservableInput<any>>(project: (value: T, index: number) => O, resultSelector?: (outerValue: T, innerValue: ObservedValueOf<O>, outerIndex: number, innerIndex: number) => R): OperatorFunction<T, ObservedValueOf<O> | R>

exhaustMap(), cũng như 3 HOOs trên, nhận vào 1 projectFunctionprojectFunction này cũng sẽ phải trả về 1 Inner Observable. exhaustMap() sẽ subscribe vào Inner Observable này và trong khi Inner Observable đang emit (chưa complete) giá trị của nó mà có 1 Inner Observable mới (do Outer Observable emit giá trị mới, nhớ nha các bạn 👌) thì Inner Observable mới này sẽ bị BỎ QUA hoàn toàn khi Inner Observable cũ chưa complete.

image

Cách hoạt động khá khá giống với throttle mà chúng ta đã tìm hiểu qua. Để thấy rõ được cách hoạt động của exhaustMap(), chúng ta xem qua ví dụ sau:

function log(val) {
  // helper function thôi
  console.log(val + " emitted!!!");
  console.log("-----------------");
}

concat(
  timer(1000).pipe(mapTo("first timer"), tap(log)), // emit "first timer" sau 1 giây
  timer(5000).pipe(mapTo("second timer"), tap(log)), // emit "second timer" sau 5 giây
  timer(3000).pipe(mapTo("last timer"), tap(log)) // emit "last timer" sau 3 giây
)
  .pipe(
    exhaustMap((c) =>
      interval(1000).pipe(
        map((v) => `${c}: ${v}`),
        take(4)
      )
    ) // interval(1000) này sẽ mất 4 giây để complete
  )
  .subscribe(console.log);

// Sau 1 giây:
// first timer emitted!! -- đây là hàm log
// first timer: 0
// first timer: 1
// first timer: 2
// first timer: 3 -- complete -- và lúc này 5 giây đã trôi qua

// second timer emitted!! -- đây là hàm log
// second timer: 0
// second timer: 1
// second timer: 2 -- lúc này 3 giây tiếp theo trôi qua
// last timer emitted!! -- đây là hàm log
// second timer: 3 -- complete
// KHÔNG CÒN GÌ XẢY RA

Các bạn có thể thấy là khi exhaustMap() đang chạy Inner Observable của second timerlast timer emit, thì exhaustMap() bỏ qua hoàn toàn Inner Observable của last timer và mọi nghiệp vụ dừng lại sau khi Inner Observable của second timer complete. Đây là tính chất của exhaustMap(), là 1 trong những Rate Limiting HOO hiếm hoi 😎

switch/concat/mergeMapTo() trong RxJS

3 HOOs này đều có cách HOO *mapTo() tương ứng. Cách thức hoạt động giống với HOO nguyên bản. Tuy nhiên, thay vì nhận vào projectFunction thì các bạn truyền hẳn vào Inner Observable luôn. Nếu các bạn có các nghiệp vụ cần dùng đến cái HOOs này mà không quan tâm giá trị của Outer Observable, thì cứ dùng các HOO *mapTo() này.

fromEvent(document, "click").pipe(switchMapTo(interval(1000).pipe(take(10))));

fromEvent(document, "click").pipe(mergeMapTo(interval(1000).pipe(take(10))));

fromEvent(document, "click").pipe(concatMapTo(interval(1000).pipe(take(10))));

partition() trong RxJS

partition<T>(source: any, predicate: (value: T, index: number) => boolean, thisArg?: any): [Observable<T>, Observable<T>]

partition() thực chất không phải là 1 HOO, mà nó là 1 HOF (Higher Order Function). Tuy nhiên, nếu xét về tính chất thì nó cũng nhận vào 1 Source và trả về, không chỉ 1, mà là 2 Destination. partition() nhận vào 2 tham số:

  • Source Observable
  • predicateFunction: predicateFunction này sẽ được invoke cho mỗi giá trị mà Source Observable emit.
    Với tham số predicateFunction, partition() sẽ chia Source Observable thành 2 Destination Observables: 1 Observable với giá trị thoả điều kiện của predicateFunction, Observable còn lại chứa giá trị không thoả điều kiện của predicateFunction.
image
const [even$, odd$] = partition(interval(1000), (x) => x % 2 === 1);
merge(
  evens$.pipe(map((x) => `even - ${x}`)),
  odds$.pipe(map((x) => `odd - ${x}`))
).subscribe(console.log);

// even - 0
// odd - 1
// even - 2
// odd - 3
// ...

partition() cực kỳ hữu ích trong trường hợp 1 WebSocket về notifications từ backend và các bạn muốn phân chia thành readNotification$unreadNotification$ để xử lý 2 Observables này 1 cách khác nhau.

Trên đây là những HOOs thường dùng nhất trong RxJS. Ngoài ra, RxJS còn có các HOOs sau: expand(), groupBy(), và mergeScan(). Tuy nhiên, những HOOs này khá ít khi sử dụng, thực chất là mình chưa dùng qua những HOOs này bao giờ nên mình xin không đề cập đến. Các bạn có thể tự tìm hiểu nhé vì chúng khá dễ, ít nhất là dễ hiểu hơn so với mấy cái switchMap() rồi concatMap() kia 😛

Utility Operators

Đúng với tên gọi, đây là những operators cung cấp 1 số tiện ích cho chúng ta mà đôi khi rất hiệu quả.

tap() trong RxJS

tap<T>(nextOrObserver?: NextObserver<T> | ErrorObserver<T> | CompletionObserver<T> | ((x: T) => void), error?: (e: any) => void, complete?: () => void): MonoTypeOperatorFunction<T>

Ngoài hàm subscribe thì chắc tap() là 1 trong những operator được dùng nhiều nhất trong RxJS. tap() là 1 operator mà các bạn có thể pipe vào bất cứ Observable nào và tại bất cứ vị trí nào. tap() nhận vào tham số giống như subscribe đó là Observer hoặc là 3 functions nextFunction, errorFunction, và completeFunction. Vì nhận vào tham số giống subscribe, nên bản chất tap() không trả về giá trị gì. Điều này nghĩa là tap() hoàn toàn không làm thay đổi bất cứ gì trên 1 Observable. Các bạn có thể dùng tap() để:

  1. Log giá trị được emit ở bất cứ thời điểm nào trong Observable. Điều này giúp debug được giá trị của 1 Observable trước và sau khi dùng 1 operator nào đó.
interval(1000)
  .pipe(
    tap((val) => console.log("before map", val)),
    map((val) => val * 2),
    tap((val) => console.log("after map", val))
  )
  .subscribe();

// before map: 0
// after map: 0

// before map: 1
// after map: 2

// before map: 2
// after map: 4
// ...
  1. Để thực thi 1 nghiệp vụ nào đó mà nghiệp vụ sử dụng giá trị của Observable emit và mutate giá trị đó. Việc này được coi là side effect đối với Observable hiện tại
  2. Để thực thi 1 nghiệp vụ nào đó mà hoàn toàn không liên quan đến giá trị mà Observable emit. Ví dụ, để start/stop loader.

delay()/delayWhen()

delay<T>(delay: number | Date, scheduler: SchedulerLike = async): MonoTypeOperatorFunction<T>

delay() khá là dễ hiểu, chỉ là delay giá trị emit của 1 Observable nào đó dựa vào tham số truyền vào. Nếu như tham số truyền vào là Number, thì delay() sẽ chạy 1 timer với khoảng thời gian là tham số, sau đó sẽ emit giá trị của Observable. Nếu như tham số truyền vào là Date, thì delay() sẽ hoãn giá trị emit tới khi thời gian hiện tại bằng với Date được truyền vào.

image
fromEvent(document, "click").pipe(delay(1000)).subscribe(console.log);

// click
// 1s -- MouseEvent
// click
// 1s -- MouseEvent

delayWhen<T>(delayDurationSelector: (value: T, index: number) => Observable<any>, subscriptionDelay?: Observable<any>): MonoTypeOperatorFunction<T>

delayWhen() tính chất hoạt động giống như delay() nhưng thay vì truyền vào khoảng thời gian Number hoặc ngày Date, thì chúng ta truyền vào 1 function mà trả về 1 Observable. delayWhen() sẽ hoãn emit giá trị của Source Observable cho đến khi Observable truyền vào emit.

image
fromEvent(document, "click")
  .pipe(delayWhen(() => timer(1000)))
  .subscribe(console.log);
// click
// 1s -- MouseEvent
// click
// 1s -- MouseEvent

finalize() trong RxJS

finalize<T>(callback: () => void): MonoTypeOperatorFunction<T>

finalize() rất đơn giản là 1 operator mà sẽ nhận vào 1 callback. callback này sẽ được thực thi khi Observable complete hoặc error. Use-case thường gặp nhất của finalize() chính là stop loader/spinner, vì chúng ta sẽ muốn cái loader/spinner dừng lại/không hiển thị khi 1 API Request thực hiện xong, cho dù có lỗi hay không có lỗi.

this.loading = true;
this.apiService
  .get()
  .pipe(finalize(() => (this.loading = false)))
  .subscribe();

repeat() trong RxJS

repeat<T>(count: number = -1): MonoTypeOperatorFunction<T>

repeat(), đúng như tên gọi, sẽ nhận vào tham số count và sẽ lặp lại Source Observable đúng với số count mà được truyền vào.

image
of("repeated data").pipe(repeat(3)).subscribe(console.log);
// 'repeated data'
// 'repeated data'
// 'repeated data'

timeInterval() trong RxJS

timeInterval<T>(scheduler: SchedulerLike = async): OperatorFunction<T, TimeInterval<T>>

timeInterval() dùng để đo khoảng thời gian giữa 2 lần emit của Source Observable. Ví dụ là tính thời gian giữa 2 lần click của người dùng. timerInterval() sẽ chạy timer ở thời điểm Observable được subscribe. Nghĩa là khi bắt đầu subscribe cho đến lúc có giá trị đầu tiên được emit, thì timeInterval() sẽ track được khoảng thời gian này.

image
fromEvent(document, "click").pipe(timeInterval()).subscribe(console.log);
// click
// TimeInterval {value: MouseEvent, interval: 1000 } // nghĩa là từ lúc subscribe đến lúc click lần đầu thì mất 1s

timeout() trong RxJS

timeout<T>(due: number | Date, scheduler: SchedulerLike = async): MonoTypeOperatorFunction<T>

timeout() nhận vào tham số giống như delay(), là 1 khoảng thời gian Number hoặc 1 ngày nào đó Date. timeout() sẽ throw error nếu như Source Observable không emit giá trị trong khoảng thời gian (nếu như tham số là Number) hoặc cho tới khi thời gian hiện tại bằng với ngày được truyền vào (nếu như tham số là Date).

image
interval(2000).pipe(timeout(1000)).subscribe(console.log, console.error);

// Error { name: "TimeoutError" }

timeoutWith() trong RxJS

timeoutWith<T, R>(due: number | Date, withObservable: any, scheduler: SchedulerLike = async): OperatorFunction<T, T | R>

timeoutWith() hoạt đột tương tự timeout() nhưng nhận thêm tham số thứ 2 là 1 Observable. Nếu như trường hợp Source Observable emit giá trị quá chậm so với due thì timeoutWith() thay vì throw error, timeoutWith() sẽ subscribe vào tham số Observable kia.

image

toPromise() trong RxJS

À ha, mình đặt cái này cuối cùng là có ý đồ 😅. Nhìn tên hàm các bạn cũng đoán được hàm này làm gì rồi phải không? Đây không phải là 1 operator nhưng được RxJS liệt kê vào Utility Operator. toPromise() là 1 instance method trên class Observable dùng để chuyển đổi 1 Observable thành Promise🤦‍. Tuy nhiên, toPromise() sẽ bị deprecated vào RxJS v7 sắp tới, các bạn nào dùng thì cẩn thận nhé.

async function test() {
  const helloWorld = await of("hello")
    .pipe(map((val) => val + " World"))
    .toPromise();
  console.log(helloWorld); // hello World
}

Trên đây là các Utility OperatorRxJS cung cấp. Sử dụng nhiều nhất chắc chắn là tap() vì các bạn sẽ dùng tap() để debug Observable Flow rất nhiều 😂

Lời kết

Trong ngày hôm nay, chúng ta đã tìm hiểu những operators có thể nói là quan trọng nhất nhì trong RxJS và đặc biệt là trong Angular vì nhưng operators này giúp chúng ta xử lý được những Asynchronous Flow rất khéo léo. Nếu có 1 lời khuyên, mình khuyên các bạn hãy làm quen (thật quen) với 4 thằng switch/concat/merge/exhaustMap() thì công cuộc chinh phục Angular của các bạn sẽ dễ thở hơn rất nhiều.

Avatar
Được viết bởi

TechMely Team

Gợi ý câu hỏi phỏng vấn

entry

Dữ liệu được lưu trữ trong container sẽ bị mất trong những trường hợp nào?

entry

Tầm quan trọng của việc tạo mẫu trong thiết kế là gì?

entry

Các thành phần chính trong Microservices?

Bình luận

Chưa có bình luận nào

Chưa có bình luận nào