Hàm đệ quy trong C

0 phút đọc

Trong bài viết này, chúng ta sẽ tìm hiểu và học cách viết các hàm đệ quy trong lập trình C.

Hàm đệ quy là gì

Một hàm gọi lại chính nó bên trong body code được gọi là hàm đệ quy. Và kỹ thuật này được gọi là đệ quy.

Cấu trúc của hàm đệ quy

void recurse() {
    ... .. ...
    recurse();  // gọi lại chính nó bên trong nó
    ... .. ...
}

int main() {
    ... .. ...
    recurse();
    ... .. ...
}

Cách hàm đệ quy hoạt động

Vì đệ quy là một hàm gọi lại chính nó nên có thể xem như là lặp đi lặp lại, vì vậy để ngăn đệ quy chạy vô hạn, cần có điều kiện để kết thúc nó. Thông thường chúng ta sẽ sử dụng if-else để làm việc đó.

Ví dụ:

Tính tổng các số từ 1 đến n.

Đối với bài toán này chúng ta có 3 cách giải như sau:

Giải pháp 1

Sử dụng công thức toán học.

#include <stdio.h>

int main() {

    int number, result;

    printf("Enter a positive integer: ");
    scanf("%d", &number);

    result = number * (number + 1) / 2;

    printf("sum = %d", result);
}

Giải 2

Sử dụng vòng lặp for.

#include <stdio.h>

int main() {

    int number, result;

    printf("Enter a positive integer: ");
    scanf("%d", &number);

    for(int i = 1; i <= n; ++i) {
        result += i;
    }

    printf("sum = %d", result);
}

Sử dụng vòng lặp while.

#include <stdio.h>

int main() {

    int number, result;

    printf("Enter a positive integer: ");
    scanf("%d", &number);

    int i = 1;
    while (i <= n) {
        result += i;
        ++i;
    }

    printf("sum = %d", result);
}

Giải pháp 3

Sử dụng hàm đệ quy.

#include <stdio.h>

int sum(int);

int main() {
    int number, result;

    printf("Enter a positive integer: ");
    scanf("%d", &number);

    result = sum(number);

    printf("sum = %d", result);
    return 0;
}

int sum(int n) {

    if (n != 0) {
        // sum() function calls itself
        return n + sum(n-1);
    } else {
        return n;
    }
}
  • Đầu tiên, hàm sum() được gọi từ hàm main() với number được truyền vào bằng giá trị lấy từ người dùng nhập vào.
  • Giả sử, giá trị của n truyền vào trong sum()3. Trong lần gọi hàm tiếp theo, bạn có thể thấy chúng ta sẽ truyền giá trị n-1 vào hàm sum()2 được truyền vào hàm sum(). Quá trình này tiếp tục cho đến khi n = 0 thì kết thúc (kiểm tra trong if).
  • Khi n = 0, if trả về false và phần else được thực thi trả về tổng số nguyên cuối cùng cho hàm main().

Ưu và nhược điểm của hàm đệ quy

  • Đệ quy làm cho chương trình trông gọn gàng hơn. Tuy nhiên, một chương trình quan trọng hiệu suất hơn, thay vì sử dụng đệ quy hãy sử dụng các vòng lặp vì đệ quy thường chạy chậm hơn nhiều.
  • Nhưng đệ quy lại là một khái niệm quan trọng cần biết. Vì nó thường được sử dụng trong cấu trúc dữ liệu và thuật toán.

Bình luận

Chưa có bình luận nào

Chưa có bình luận nào

Avatar TechMely Team
Được viết bởi

TechMely Team

Bạn sẽ tìm thấy niềm vui khi giúp đỡ người khác bằng tất cả tấm lòng